Báo cáo tóm tắt trình Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 do đồng chí Đỗ Đức Duy - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái trình bày

  • Cập nhật: Thứ tư, 23/9/2020 | 8:43:14 AM

YênBái - Trong phiên làm việc chính thức đầu tiên của Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh Yên Bái, đồng chí Đỗ Đức Duy - Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh trình bày tóm tắt Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVIII trình Đại hội. Báo Yên Bái xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc!

Kính thưa các đồng chí đại biểu, khách quý,
Thưa Đại hội!

Thay mặt Đoàn chủ tịch Đại hội, Tôi xin trình bày tóm tắt Báo cáo chính trị trình Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 như sau:

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 19, nhiệm kỳ 2020-2025 có nhiệm vụ quan trọng là đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ 18, quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm tới và những năm tiếp theo với phương châm "Dân chủ - Đoàn kết - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển" và chủ đề: Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy truyền thống đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên; đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo, phát triển nhanh, bền vững theo hướng xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc; quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

PHẦN THỨ NHẤT: ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XVIII ĐẢNG BỘ TỈNH, NHIỆM KỲ 2015-2020

5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh, trong điều kiện đất nước đạt được những thành tựu quan trọng và tạo nhiều dấu ấn nổi bật: Chính trị - xã hội ổn định, kinh tế phát triển nhanh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đạt được kết quả quan trọng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp đổi mới không ngừng được nâng lên. 

Trong tỉnh, những thành tựu to lớn sau hơn 30 năm đổi mới đất nước đã tạo tiền đề để tỉnh ta tiếp tục phát triển; tiềm năng, lợi thế của tỉnh được phát huy. Bên cạnh đó, tỉnh ta cũng chịu nhiều tác động tiêu cực từ biến đổi cực đoan của thời tiết, rét đậm, rét hại kéo dài, lũ ống, lũ quét, ngập úng, sạt lở đất nghiêm trọng gây thiệt hại lớn về người, tài sản của nhân dân và cơ sở hạ tầng của tỉnh; tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, nhất là năm 2020 đại dịch Covid-19 ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội và đời sống, sinh hoạt của nhân dân. 

Trong bối cảnh đó, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái đã đoàn kết, năng động, sáng tạo, tận dụng tối đa tiềm năng, lợi thế, thu hút mọi nguồn lực, khơi dậy mạnh mẽ sức mạnh nội sinh, phát huy nhân tố con người, lấy nhân dân làm trung tâm; cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn địa phương; triển khai giải quyết hợp lý, hiệu quả các mối quan hệ lớn cho phát triển, nhất là mối quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển hài hòa kinh tế - xã hội - môi trường; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ và xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc; tập trung giải phóng tư tưởng, tích cực khơi thông những điểm nghẽn, đẩy mạnh sức sản xuất xã hội, huy động mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, toàn diện, bền vững và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực, tạo những dấu ấn nổi bật:

1. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, chất lượng tăng trưởng được nâng lên, thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa vùng thấp và vùng cao, giữa đô thị và nông thôn. Quy mô kinh tế tăng nhanh, đến năm 2020 ước đạt trên 33.500 tỷ đồng, gấp 1,6 lần năm 2015; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng ngành dịch vụ và ngành công nghiệp - xây dựng.

2. Cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới đạt kết quả quan trọng, tạo động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tiếp tục mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả các vùng sản xuất tập trung với 10 sản phẩm nông, lâm nghiệp chủ lực (Quế, Sơn Tra, măng tre Bát Độ, lúa đặc sản, ngô, cây ăn quả, chè, dâu tằm, nguyên liệu gỗ rừng trồng, đàn trâu, bò, vùng nuôi trồng thủy sản) gắn với thị trường tiêu thụ; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 ngành nông nghiệp ước đạt 4,55%, cao hơn bình quân chung cả nước; tỷ lệ che phủ rừng đạt 63%, đứng thứ tư cả nước. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc, đi đầu trong các tỉnh khu vực Tây Bắc, đến nay toàn tỉnh đã có 76 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm trên 50% số xã toàn tỉnh, gấp hơn 3 lần mục tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII (trong đó có 13 xã và 196 thôn, bản đặc biệt khó khăn); huyện Trấn Yên là huyện miền núi đầu tiên đạt chuẩn nông thôn mới trong khu vực Tây Bắc. 

3. Công nghiệp có bước phát triển khá, hình thành và mở rộng thị trường tiêu thụ một số sản phẩm chủ lực, lợi thế, có giá trị bền vững trên thị trường trong nước và xuất khẩu; giá trị sản xuất công nghiệp năm 2020 ước đạt 13.000 tỷ đồng, gấp 1,8 lần năm 2015. 

Thương mại, dịch vụ phát triển nhanh và khá đa dạng, đóng góp trên 47% GRDP của tỉnh; mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm của tỉnh đến trên 90 quốc gia, vùng lãnh thổ; dịch vụ du lịch có nhiều khởi sắc, hình thành và phát huy hiệu quả 04 vùng du lịch ((1) Vùng du lịch hồ Thác Bà và dọc sông Chảy; (2) Vùng du lịch thành phố Yên Bái và Nam Trấn Yên; (3) Vùng du lịch Bắc Trấn Yên - Văn Yên; (4) Vùng du lịch miền Tây) với một số sản phẩm du lịch tiêu biểu, đặc trưng, nổi trội, có sức cạnh tranh, thu hút du khách trong và ngoài nước với lượng khách tăng bình quân 20%/năm, gấp gần 5 lần giai đoạn trước.

4. Tài chính, ngân hàng tăng trưởng khá, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng bình quân 22%/năm, tổng thu ngân sách năm 2020 gấp trên 2,1 lần năm 2015, vượt 20% mục tiêu Nghị quyết; cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng tăng chi đầu tư phát triển gắn với đẩy nhanh tiến độ thực hiện tự chủ trong các đơn vị sự nghiệp công và tinh gọn tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế; đổi mới phân bổ dự toán chi thường xuyên, chuyển từ ngân sách cấp sang cơ chế khoán chi đặt hàng, đấu thầu, giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở. 

Nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng các nguồn lực đầu tư; phát triển mạnh các thành phần kinh tế; nhiều tập đoàn, doanh nghiệp hàng đầu trong nước đã lựa chọn Yên Bái là điểm đầu tư quan trọng, như: Vingroup, TH, SunGroup, Eurowindow, Hoa Sen, APEC, Bảo Lai... Số lượng doanh nghiệp, hợp tác xã năm 2020 gấp gần 2 lần năm 2015.

5. Văn hóa - xã hội, khoa học, công nghệ có nhiều tiến bộ. Chủ động sắp xếp mạng lưới trường, lớp học và đội ngũ cán bộ giáo dục - đào tạo bảo đảm tinh gọn, hợp lý, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là giáo dục dân tộc và giáo dục mũi nhọn. Chú trọng chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. 

Chất lượng công tác y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng lên rõ rệt, toàn tỉnh có 32,9 giường bệnh/1 vạn dân và 10,1 bác sỹ/1 vạn dân, cao hơn bình quân chung cả nước; nhiều kỹ thuật y tế vượt tuyến, kỹ thuật khó đã được chuyển giao và thực hiện thành công, đem lại sự tin tưởng và sự hài lòng của người dân; đặc biệt, năm 2020 đã chủ động, kịp thời chỉ đạo sát sao, quyết liệt, hiệu quả công tác phòng, chống đại dịch Covid-19, không để xâm nhập, lây lan vào địa bàn, bảo đảm an toàn sức khỏe và tính mạng nhân dân. 

Quan tâm phát triển xã hội công bằng, tiến bộ, bảo đảm mọi người dân đều được chăm lo, thụ hưởng các chế độ, chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; Hoàn thành hỗ trợ xây dựng gần 3.600 nhà cho 100% người có công và hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở; tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, quyền được sinh hoạt tôn giáo theo pháp luật. 

Tập trung gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, xây dựng hình ảnh con người Yên Bái "thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập". Giảm nghèo nhanh, bền vững với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, là điểm sáng của các tỉnh trong khu vực Tây Bắc, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 32,21% năm 2016, xuống còn 7,56% năm 2020. 

6. Tăng cường quản lý và bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái. chủ động khắc phục nhanh chóng, kịp thời hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt kết quả tích cực; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước; phong tục, tập quán lạc hậu dần được xóa bỏ, bản sắc văn hóa của đồng bào được phát huy.

7. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, hợp tác quốc tế và liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng; Yên Bái đã được Chính phủ chấp thuận trở thành đối tác hợp tác của tuyến hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; hình ảnh, tiềm năng, lợi thế của tỉnh được giới thiệu, quảng bá ngày càng rộng rãi trong nước và quốc tế; vai trò, vị thế Yên Bái là trung tâm liên kết phát triển vùng được khẳng định.

8. Thực hiện 03 đột phá chiến lược đạt kết quả rõ nét:

(1) Hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế, huy động và khơi dậy các nguồn lực, thúc đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội và sắp xếp lại tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; cải cách hành chính có nhiều tiến bộ, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt.

(2) Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư đồng bộ, hiệu quả, nhất là hạ tầng giao thông kết nối vùng và liên vùng, hạ tầng đô thị, hạ tầng nông thôn... góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo diện mạo đô thị và nông thôn ngày càng đổi thay, khang trang, tươi đẹp.

(3) Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

9. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt kết quả quan trọng và nổi bật. Xây dựng Đảng bộ mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; nâng cao bản lĩnh, vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp. 

Công tác tư tưởng, lý luận có nhiều tiến bộ, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và đồng thuận trong xã hội. Đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, tinh giản biên chế trong hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (giảm 25,4% số đầu mối cơ quan, đơn vị, 46% số thôn, bản, tổ dân phố, 12% biên chế công chức, 13% biên chế viên chức so với năm 2015), là một trong những điểm sáng của cả nước. 

Chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, chủ động xây dựng và tạo nguồn cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, nữ, dân tộc cho cả trước mắt và lâu dài. 

Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng được đẩy mạnh; công tác nội chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí được quan tâm thực hiện nghiêm túc, kỷ cương, kỷ luật của Đảng được tăng cường. Công tác dân vận của hệ thống chính trị và hoạt động của MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội đạt kết quả tích cực, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy ý chí, khát vọng vươn lên trong các tầng lớp nhân dân. 

Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, nhất là đối với chính quyền không ngừng được đổi mới, hiệu quả nâng lên, góp phần quan lãnh đạo thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn nhiều hạn chế như báo cáo đã đề cập, trong đó rõ nhất là:

(1) Còn 02/21 chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh là Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GRDP bình quân đầu người không đạt mục tiêu đề ra. 

(2) Kinh tế của tỉnh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; quy mô nền kinh tế còn nhỏ, năng suất lao động và năng lực cạnh tranh thấp; giảm nghèo nhanh nhưng chưa thật sự bền vững, đời sống của một bộ phận người dân vùng cao, vùng dân tộc thiếu số còn khó khăn.

(3) Chất lượng, hiệu quả trên một số lĩnh vực văn hóa - xã hội còn hạn chế.

(4) An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. 

(5) Công tác phòng, chống tham nhũng có mặt hiệu quả chưa cao. Vai trò tiền phong, gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được phát huy đầy đủ. 

(6) Mục tiêu đến năm 2020 "Xây dựng Yên Bái phát triển toàn diện, bền vững, trở thành tỉnh phát triển khá trong vùng trung du và miền núi phía Bắc" chưa hoàn thành.

Trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém trong thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII rút ra nguyên nhân chủ quan, khách quan và 05 kinh nghiệm quý báu là:

Một là, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị thực sự trong sạch, vững mạnh toàn diện, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị gắn liền với giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Hai là, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là trong Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và cấp ủy các cấp; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; xác định nhân dân là trung tâm, vừa là chủ thể, động lực của sự nghiệp đổi mới, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; huy động sự chung sức, đồng lòng của nhân dân hướng vào xây dựng quê hương, đất nước.

Ba là, nắm vững, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện sáng tạo, linh hoạt, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với điều kiện và yêu cầu thực tế của địa phương; đồng thời quyết tâm, quyết liệt, năng động trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, khơi thông các điểm nghẽn, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực xã hội; dự báo đúng tình hình, nhận diện đúng thời cơ, thách thức, chú trọng tạo đột phá để thúc đẩy phát triển.

Bốn là, thực hiện nhất quán chủ trương, quan điểm phát triển bền vững, hài hòa giữa kinh tế với văn hóa - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, ổn định chính trị và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc; coi trọng công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận gắn với công tác thi đua, khen thưởng thiết thực, hiệu quả; động viên, khích lệ, nhân rộng những mô hình hay, cách làm mới, những gương điển hình tiên tiến, lan tỏa những giá trị nhân văn, tốt đẹp, tạo đồng thuận cao trong xã hội.

PHẦN THỨ HAI: MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN NHIỆM KỲ 2020-2025

Đất nước ta sau gần 35 năm đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo thế và lực mới, sức mạnh tổng hợp của quốc gia, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng cao; tuy nhiên, nền kinh tế phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của đại dịch Covid-19, khả năng tăng trưởng kinh tế sẽ thấp hơn trong những năm đầu giai đoạn 2021-2025.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, đất nước ta; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, nặng nề. Đối với tỉnh ta, cùng với những thành tựu quan trọng đạt được sau 30 năm tái lập, tạo nền tảng vững chắc để tỉnh phát triển trong những năm tới; 

Đồng thời, việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách mới của Trung ương về hội nhập quốc tế sâu rộng, các chương trình mục tiêu quốc gia góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc; cơ hội khi tham gia đối tác, hợp tác hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; các chương trình, dự án động lực, trọng điểm, nhất là hạ tầng giao thông kết nối vùng, liên vùng đã và đang hoàn thiện, cùng truyền thống lịch sử, cách mạng và giá trị, bản sắc văn hóa, con người Yên Bái sẽ tiếp tục là động lực cho giai đoạn phát triển tới. 

Tuy nhiên, Yên Bái vẫn phải đối mặt với khó khăn của một tỉnh miền núi, kinh tế chậm phát triển, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động thấp, kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu; thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tỉnh; khả năng phát triển kinh tế sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 có mặt khó khăn hơn.

Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân các dân tộc trong tỉnh cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, chung sức, đồng lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu sau:

1. Mục tiêu phát triển: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Yên Bái "thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập"; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025  và nằm trong nhóm tỉnh phát triển của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

2. Phương hướng phát triển: Để đạt được mục tiêu đề ra, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa 18 xác định 05 phương hướng phát triển chủ đạo của Đảng bộ trong những tới, tạo sự đồng bộ, nhất quán trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đó là: 

(1) Xây dựng và phát triển Yên Bái trên cơ sở khai thác hiệu quả các lợi thế, tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; coi phát triển hài hòa kinh tế, xã hội, môi trường là nhiệm vụ cơ bản; chủ động tham gia tích cực các chương trình mục tiêu quốc gia góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Bắc; đối tác, hợp tác hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; các chương trình, dự án động lực, trọng điểm, nhất là hạ tầng giao thông kết nối vùng, liên vùng; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực theo hướng phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc, quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

(2) Tạo môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy khởi nghiệp, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân trong những ngành chủ lực, có lợi thế của tỉnh như: Phát triển lâm nghiệp đa mục tiêu, chuyên canh nông sản chủ lực, đặc sản, hữu cơ và sản phẩm công nghệ cao; phát triển chăn nuôi, thủy sản cơ bản theo hướng tập trung, bảo đảm an toàn sinh học; công nghiệp chế biến lâm sản công nghệ cao; chế biến vật liệu xây dựng cao cấp; công nghiệp phụ trợ, may mặc, năng lượng tái tạo; phát triển mạnh dịch vụ, thương mại; đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững.

(3) Phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội; bảo đảm an sinh, tiến bộ, công bằng xã hội, thiết thực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và sự hài lòng của nhân dân; phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Yên Bái "thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập"; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, thiết thực nâng cao chất lượng sống và chỉ số hạnh phúc cho nhân dân là giá trị cốt lõi.

(4) Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, gắn kết đồng bộ giữa thành thị và nông thôn; đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới; phát triển toàn diện kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi. Xây dựng và thực hiện chương trình đột phá về cải cách hành chính toàn diện, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại, kiến tạo phát triển; nâng cao hiệu quả quản lý xã hội, cải thiện năng lực cạnh tranh của tỉnh.

(5) Xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh; đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, vai trò lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện của các cấp ủy đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, gắn với xây dựng chính quyền điện tử; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ; phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển của tỉnh.

3. Về chỉ tiêu chủ yếu: Căn cứ mục tiêu đề ra, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa 18 xác định 19 chỉ tiêu chủ yếu, đó là đến năm 2025: 

- Về phát triển kinh tế : (1) Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt trên 7,5%;  GRDP bình quân đầu người đạt trên 65 triệu đồng. (2) Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 20,5%; Công nghiệp - xây dựng 32%; Dịch vụ 47,5%. (3) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 7.000 tỷ đồng. (4) Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đạt 100.000 tỷ đồng. (5) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 28%. (6) Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 6,2%/năm.

- Về văn hóa - xã hội: (7) Tuổi thọ trung bình người dân đạt 74,5 tuổi; trong đó số năm sống khỏe đạt tối thiểu 68 năm. (8) Chỉ số hạnh phúc của người dân tăng 15% so với năm 2020 (đây là chỉ tiêu mới, nhằm định lượng rõ mục tiêu cần hướng tới trong việc nâng cao cuộc sống hạnh phúc cho nhân dân). (9) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%, trong đó tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ đạt 40% trở lên. (10) Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn quốc gia) giảm bình quân trên 4%/năm. (11) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 96,5%; có 12 bác sỹ, 35 giường bệnh trên một vạn dân. (12) Tỷ lệ hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa là 85%; tỷ lệ thôn, bản, tổ dân phố đạt chuẩn văn hóa là 75%. (13) Trên 78% tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; công nhận 02 huyện đạt chuẩn nông thôn mới (huyện Văn Yên và huyện Yên Bình), thị xã Nghĩa Lộ hoàn thành xây dựng nông thôn mới.

- Về môi trường: (14) Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt trên 91%; tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh đạt 98%. (15) Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn đô thị đạt trên 93%, nông thôn đạt trên 50%. (16) Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đạt 100%. (17) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 65%.

- Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị : (18) Số đảng viên kết nạp hằng năm từ 1.800 đảng viên trở lên. (19) Số tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hằng năm đạt 90% trở lên; số cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương hằng năm đạt từ 50% trở lên, trong đó cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị đạt từ 70% trở lên.

Đồng thời đưa ra 08 chỉ tiêu phát triển chủ yếu đến năm 2030, như Báo cáo đã đề cập.

4. Để hoàn thành được mục tiêu, chỉ tiêu phát triển của nhiệm kỳ 2020-2025, trong nhiệm kỳ đại hội XIX Đảng bộ tỉnh, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đã nêu trong Báo cáo chính trị, đặc biệt cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả 03 đột phá chiến lược và 07 nhiệm vụ trọng tâm sau:

- 03 đột phá chiến lược là: 

(1) Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển; tập trung cải cách hành chính, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh số hóa trong quản lý xã hội và phục vụ nhân dân, thiết thực nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp. 

(2) Phát triển nguồn nhân lực, trọng tâm là nâng cao chất lượng nhân lực khu vực nông nghiệp, nông thôn, nhân lực đồng bào dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; phát huy giá trị, bản sắc văn hoá, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của con người Yên Bái, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển. 

(3) Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ, trọng tâm là hạ tầng giao thông, thông tin, viễn thông, thủy lợi, hạ tầng đô thị, hạ tầng khu, cụm công nghiệp, liên kết nông thôn với đô thị, công nghiệp, dịch vụ với nông nghiệp và liên kết vùng, đáp ứng yêu cầu phát triển.

- Về 7 nhiệm vụ trọng tâm là: 

(1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; tiếp tục sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. 

(2) Tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phát triển xanh, phù hợp với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; trọng tâm là phát triển nông, lâm nghiệp theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững; phát triển công nghiệp thân thiện với môi trường, trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững; phát triển du lịch xanh, bản sắc, hấp dẫn, là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu của vùng Tây Bắc. 

(3) Tích cực, chủ động thu hút đầu tư theo hướng hiện đại, thân thiện với môi trường; thúc đẩy khởi nghiệp, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội nhanh, bền vững. 

(4) Tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, thích ứng với Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, từng bước phát triển nền kinh tế số, xã hội số. 

(5) Khơi dậy khát vọng vươn lên, phát huy giá trị, bản sắc văn hóa và xây dựng con người Yên Bái "thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập"; tăng cường quản lý phát triển xã hội tiến bộ, công bằng, bền vững; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với bảo đảm kỷ cương xã hội, nâng cao chỉ số hạnh phúc cho nhân dân. 

(6) Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên cơ sở phát huy vai trò chủ thể của người dân và cộng đồng gắn với bảo vệ môi trường, sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu. 

(7) Tăng cường quốc phòng an ninh, tập trung xây dựng "thế trận lòng dân" gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân.

Kính thưa các đồng chí đại biểu, khách quý,
Thưa Đại hội!

Thay mặt Đoàn chủ tịch, tôi vừa trình bày tóm tắt Báo cáo chính trị trình Đại hội 19 Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025. Xin trân trọng cảm ơn Đại hội!

Tags Báo cáo tóm tắt trình Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025 Đỗ Đức Duy Phó Bí thư Tỉnh ủy Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái

Các tin khác
Lãnh đạo UBMTTQVN tỉnh Yên Bái và Thị ủy Nghĩa Lộ chụp ảnh với các đại biểu về dự Đại hội.

Ngày 19/4, với hơn 150 đại biểu chính thức tham dự, Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) thị xã Nghĩa Lộ lần thứ VI, nhiệm kỳ 2024 - 2029 đã được tổ chức thành công tốt đẹp.

Chiều nay – 19/4, thành phố Yên Bái và huyện Trạm Tấu đã tổ chức Hội nghị sơ kết chương trình hợp tác, kết nghĩa năm 2023, triển khai chương trình năm 2024.

Bộ Chính trị đề nghị Trung ương khai trừ Đảng ông Lê Viết Chữ

Bộ Chính trị khai trừ đảng nhiều cán bộ ở Quảng Ngãi, Vĩnh Phúc và báo cáo, đề nghị Trung ương Đảng thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng đối với ông Lê Viết Chữ, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ngãi.

Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung.

Căn cứ vào các vi phạm, Bộ Chính trị quyết định thi hành kỷ luật khiển trách với ông Đào Ngọc Dung, Bộ trưởng Bộ Lao động - thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH), nhiều cán bộ khác của Bộ này cũng bị kỷ luật.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục